SKKN Biện pháp rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp mẫu giáo 4-5 tuổi B2 Trường Mầm non Đa Mai
Với ý nghĩa đó, tôi nhận thấy việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non nói chung và trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi nói riêng là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa. Nếu không có kỹ năng tự phục vụ trẻ sẽ không thể chủ động và tự lập trong cuộc sống. Trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc thích nghi với môi trường trong trường mầm non. Đặc biệt, trước tình hình dịch bệnh Covid còn diễn biến phức tạp như hiện nay, người lớn càng phải trang bị cho trẻ những kỹ năng tự phục vụ bản thân. Hãy làm tốt vai trò của người hỗ trợ để trẻ hình thành kỹ năng tự phục vụ một cách hiệu quả nhất. Đó cũng chính là lý do thúc đẩy tôi thực hiện đề tài “Biện pháp rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp mẫu giáo 4-5 tuổi B2, trường Mầm non Đa Mai”.
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Biện pháp rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp mẫu giáo 4-5 tuổi B2 Trường Mầm non Đa Mai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Biện pháp rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lớp mẫu giáo 4-5 tuổi B2 Trường Mầm non Đa Mai

chú ý đến việc rèn các kỹ năng tự phục vụ ở mọi lúc mọi nơi, chưa làm tốt công tác phối hợp với các bậc phụ huynh trong công tác phối hợp rèn kỹ năng tự phụ vụ cho trẻ. * Nguyên nhân: Bản thân chưa linh hoạt sáng tạo trong việc xây dựng môi trường và làm các đồ dùng, đồ chơi và chưa có kỹ năng lồng ghép dạy, rèn kỹ năng tự phục vụ trong các hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày. 1.2.2. Trẻ em Trẻ còn thụ động, chưa biết các kỹ năng cơ bản khi sinh hoạt và học tập ở lớp, chưa có nền nếp tốt, chưa tự làm được một số kỹ năng đơn giản tự phục vụ bản thân, nhiều trẻ chưa biết chơi với các bạn trong nhóm. Nguyên nhân của những hạn chế này là do có trẻ mới đi học, một số trẻ được ông bà bố mẹ chiều chuộng, thường hay làm hộ trẻ khi ở nhà. * Bảng theo dõi đánh giá trẻ về nội dung thực hiện được một số kỹ năng tự phục vụ: Ngay từ đầu năm tôi đã tiến hành theo dõi và đánh giá trẻ lớp tôi về nội dung một số kỹ năng tự phục vụ và kết quả thu được như sau: Trước khi áp dụng biện pháp Nội dung theo dõi, đánh giá trẻ Trẻ đạt/tổng số Tỷ lệ % Kỹ năng tự rửa tay bằng xà phòng 12/24 50% Kỹ năng tự lau mặt 12/24 50% Kỹ năng tự đánh răng 10/24 41,7% Kỹ năng tự thay quần áo khi bị ướt, bẩn 5/24 20,8% Kỹ năng tự cầm bát, thìa xúc ăn gọn gàng, không 10/24 41,7% rơi vãi, đổ thức ăn Kỹ năng xếp dọn đồ đạc cá nhân 14/24 58,3% Kỹ năng xếp gọn đồ đạc chung của lớp 12/24 50% Kỹ năng sử dụng nhà vệ sinh 9/24 37,5% 1.2.3. Phụ huynh Chương trình giáo dục Mầm non + Kỹ năng tự rửa tay bằng xà phòng + Kỹ năng tự lau mặt + Kỹ năng tự đánh răng + Kỹ năng tự thay quần áo khi bị ướt, bẩn + Kỹ năng tự cầm bát, thìa xúc ăn gọn gàng, không rơi vãi, đổ thức ăn + Kỹ năng xếp dọn đồ đạc cá nhân + Kỹ năng xếp gọn đồ đạc chung của lớp + Kỹ năng sử dụng nhà vệ sinh 2.1.3. Kết quả áp dụng biện pháp: Bản thân đã xác định đúng và rõ ràng các kỹ năng cần dạy cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi. 2.2. Biện pháp 2: Tạo môi trường giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 2.2.1. Nội dung biện pháp: Trang trí môi trường lớp học thân thiện, theo hướng lấy trẻ làm trung tâm. Vì môi trường học tập là nơi trẻ tiếp xúc hàng ngày. 2.2.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Thực tế lớp tôi đã được nhà trường trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học song hình thức trang trí ở các góc, còn đơn giản, mảng tường vẫn còn đơn điệu chưa thực sự hấp dẫn kích thích được sự tò mò ham hiểu biết và chưa phát huy được tính tích cực khi tham gia vào các hoạt động của trẻ. Trước yêu cầu thực tế trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy để trẻ học tập tốt thì phải xây dựng môi trường giáo dục tốt nhất. Nên ngay từ đầu năm học tôi và đồng nghiệp ở cùng lớp đã tiến hành trang trí lớp đẹp, phù hợp với chủ đề, phù hợp với trẻ theo quan điểm lấy trẻ làm trung trung tâm. Tôi đã chủ động xây dựng góc kỹ năng sống phong phú như: Kỹ năng buộc dây giày, kỹ năng tự đánh răng, kỹ năng kéo tuya, kỹ năng cài khuy áo, thắt nơ, kỹ năng đan, tết Hình ảnh: Giáo viên đang làm đồ dùng và trang trí lớp học. Hình ảnh: Trẻ rửa tay ở khu vực rửa tay của lớp mình. 2.2.3. Kết quả áp dụng biện pháp: Sau khi áp dụng biện pháp này 100% trẻ được vui chơi ở các góc theo cách thức “Học bằng chơi, chơi bằng học”. Trẻ có nhiều cơ hội thực hành, có nhiều lựa chọn hoạt động, các bài tập theo hứng thú của mình. Thông qua các kỹ năng trẻ sẽ rèn luyện được một số kĩ năng tự phục vụ. 2.3. Biện pháp 3: Dạy trẻ những thói quen tự phục vụ, nền nếp vệ sinh 2.3.1. Nội dung biện pháp: Dạy trẻ một số kỹ năng tự phục vụ, rèn nền nếp thói quen cho trẻ thông qua một số hoạt động hàng ngày như: Hoạt động lao động, vệ sinh, hoạt động ngoài trời, hoạt động góc... 2.3.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp + Dạy trẻ kỹ năng tự phục vụ thông qua giờ hoạt động lao động, vệ sinh Trong các buổi hướng dẫn lao động vệ sinh vào buổi chiều tôi thường xuyên tổ chức dạy, ôn luyện cho trẻ những kỹ năng tự phục vụ. Từ đó, hình thành và củng cố các kỹ năng, thói quen cho trẻ một cách thuần thục hơn. Ví dụ: Vào chiều thứ 3 hàng tuần tôi tập trung và rèn luyện cho trẻ những kỹ năng vệ sinh như: Rửa mặt, rửa tay, chải đầu, đánh răng Vào chiều thứ 5 hàng tuần tôi tập chung rèn cho trẻ một số hoạt động lao động tự phục vụ như: Gấp quần áo, gấp chiếu, xếp ghế, cất ba lô Hình ảnh: Cô giáo hướng dẫn trẻ cách gấp áo gọn gàng. Hình ảnh: Cô giáo hướng dẫn trẻ tự xếp dép lên giá. + Dạy cho trẻ các kỹ năng tự phục vụ thông qua giờ hoạt động vui chơi ở các góc. Vui chơi - nhất là trò chơi phân vai chính là một hoạt động phản ánh thực cuộc sống xã hội thu nhỏ. Khi tham gia chơi thì trẻ được đứng ở vị trí chủ thể của hành động chơi, trẻ có thể được tự mình quyết định làm lấy những gì mà mình thích chứ không phải là những gì người khác ép buộc. Hơn bất cứ hoạt động nào, trong trò chơi, trẻ được thể hiện khả năng tự lập của mình. Trẻ luôn luôn mong muốn mình được tự giải quyết lấy mọi tình huống, chúng có xu hướng tự hoạt động mà không cần sự giúp đỡ của ai. Trẻ tự tiến hành trò chơi và chơi một cách vui vẻ. Khi chơi ở các góc trẻ thể hiện các vai chơi, đóng làm người lớn, bắt chước làm những công việc của người lớn. Cũng chính khi chơi trẻ “bộc lộ” sự sáng tạo và rèn được những kỹ năng. giá được việc ứng dụng kỹ năng mà cô dạy vào trong thực tế của trẻ đến đâu. Trong quá trình chơi và hoạt động tự chọn, nhắc nhở trẻ biết bảo quản, giữ gìn đồ chơi, tự rửa đồ chơi sau khi chơi xong, thu dọn cất đồ dùng, đồ chơi vào đúng nơi quy định. Khi vào lớp, yêu cầu trẻ tự cất giày dép đúng nơi quy định, tự rửa tay, lau mặt, nghỉ vài phút để chuẩn bị cho hoạt động tiếp theo. Ngoài ra sau khi tham gia hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ xếp hàng rửa tay sau khi chơi và tự cất dép lên giá hàng ngày trẻ được thực hiện thường xuyên lặp đi lặp lại sẽ trở thành kỹ năng thuần thục. Hình ảnh: Trẻ rửa tay sau khi tham gia chơi hoạt động ngoài trời. + Giáo dục kỹ năng tự phục vụ qua giờ vệ sinh ăn trưa. Hoạt động vệ sinh, ăn trưa: Là một hoạt động không thể thiếu ở trường mầm non. Bên cạnh việc giáo dục tri thức, thẩm mỹ, thể chấtcho các con tại trường mầm non, việc giáo dục các con về các vấn đề vệ sinh cũng là việc hết sức quan trọng. Rèn luyện những thói quen vệ sinh và hành vi văn minh cho trẻ mẫu giáo đó là nhiệm vụ rất cần thiết. Việc hiểu và nắm vững kiến thức vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường sống sẽ giúp cơ thể trẻ phát triển tốt, chống đỡ được các bệnh tật, đồng thời hình thành những thói quen cơ bản để giúp trẻ có nhiều nề nếp tốt. Có rất nhiều hoạt động ở trường mà các giáo viên có thể thông qua đó để giáo dục dạy trẻ về kỹ năng vệ sinh. Đó là những điều rất đơn giản, thường gặp Kỹ năng tự rửa tay bằng xà phòng 12/24 = 50% 24/24 = 100% Kỹ năng tự lau mặt 12/24 = 50% 24/24 = 100% Kỹ năng tự đánh răng 10/24 = 41,7% 20/24 = 83,3% Kỹ năng tự thay quần áo khi bị ướt, bẩn 5/24 = 20,8% 18/24 = 75% Kỹ năng tự cầm bát, thìa xúc ăn gọn gàng, 10/24 = 41,7% 24/24 = 100% không rơi vãi, đổ thức ăn Kỹ năng xếp dọn đồ đạc cá nhân 14/24 = 58,3% 24/24 = 100% Kỹ năng xếp gọn đồ đạc chung của lớp 12/24 = 50% 24/24 = 100% Kỹ năng sử dụng nhà vệ sinh 9/24 = 37,5% 24/24 = 100% 2.4. Biện pháp 4: Phối kết hợp với phụ huynh học sinh 2.4.1. Nội dung biện pháp Tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh học sinh về tầm quan trọng của rèn các kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. 2.4.2. Cách thức, quá trình áp dụng biện pháp Như chúng ta đã biết đặc điểm của trẻ mầm non là hay bắt chước những hành động hay lời nói của người lớn, vì vậy muốn trẻ có những kỹ năng tự phục vụ thường xuyên và có kỹ năng tự phục vụ thành thạo, người lớn phải có những kỹ năng tự phục vụ thường xuyên và thành thạo. Và phải tạo cho trẻ được rèn những kỹ năng đó thường xuyên dù ở nhà hay ở trường. Kế hoạch số 15/KH-MNĐM ngày 16 tháng 9 năm 2021 về Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học 2021-2022 của trường Mầm non Đa Mai; Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hướng dẫn và rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ Mầm non. * Hiệu quả của biện pháp - Đối với bản thân: Xác định được những kỹ năng tự phục vụ cần thiết để dạy trẻ, chủ động linh hoạt và sáng tạo hơn trong việc trang trí môi trường lớp học và khi tổ chức cho trẻ tham gia vào các hoạt động, kiên trì hơn khi dạy và rèn các kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. - Đối với phụ huynh: Phụ huynh hiểu được tầm quan trọng của bậc học Mầm non, hiểu được sự cần thiết của việc dạy và rèn các kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. - Đối với trẻ: Trẻ có thói quen vệ sinh cá nhân, lao động tự phục vụ, được rèn luyện kỹ năng tự lập; qua các hoạt động hàng ngày trong cuộc sống của trẻ. Bảng so sánh kết quả của trẻ trước và sau khi áp dụng biện pháp Khi chưa áp Sau khi áp dụng Nội dung theo dõi, đánh giá trẻ dụng biện pháp biện pháp Kỹ năng tự rửa tay bằng xà phòng 12/24 = 50% 24/24 = 100% Kỹ năng tự lau mặt 12/24 = 50% 24/24 = 100% Kỹ năng tự đánh răng 10/24 = 41,7% 20/24 = 83,3% Kỹ năng tự thay quần áo khi bị ướt, bẩn 5/24 = 20,8% 18/24 = 75% Kỹ năng tự cầm bát, thìa xúc ăn gọn gàng, 10/24 = 41,7% 24/24 = 100% không rơi vãi, đổ thức ăn Kỹ năng xếp dọn đồ đạc cá nhân 14/24 = 58,3% 24/24 = 100% Kỹ năng xếp gọn đồ đạc chung của lớp 12/24 = 50% 24/24 = 100% Kỹ năng sử dụng nhà vệ sinh 9/24 = 37,5% 24/24 = 100% GIÁO VIÊN Lương Thùy Linh
File đính kèm:
skkn_bien_phap_ren_ky_nang_tu_phuc_vu_cho_tre_lop_mau_giao_4.docx